BỆNH VIÊM GAN HEPATITIS

14 Tháng Bảy 20166:51 CH(Xem: 5829)

 

 

BỆNH VIÊM GAN (HEPATITIS)

-Dr. VŨ ĐỨC Âu Vĩnh Hiền, N.D.

 

 

1-KHÁI NIỆM VIÊM GAN:                                                                                                 

     Gan là một bộ phận quan trọng trong cơ thể. Hàng ngày, chúng ta ăn uống những thực phẩm, hoặc dùng thuốc trị bệnh. Tất cả những chất này được ngấm vào máu và được đưa đến gan, để biến chế thành các chất hóa học khác nhau. Rồi gan tiếp nhận những chất cần thiết cho cơ thể, và loại bỏ những chất độc, và cặn bã. Đôi khi, có những chất độc làm tổn thương đến gan, và khiến gan bị viêm.

     Bệnh Viêm Gan (Hepatitis) là chứng tổn thương của bộ phận gan, được gây ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Thông thường, do ba nguyên nhân chính như: -Siêu vi trùng (Virus), -Ăn uống (thực phẩm, rượu hoặc thuốc trị bệnh), và do sạn trong ống dẫn mật.

     Bệnh viêm gan do siêu vi trùng thường có 3 loại: A, B, C; còn D và E rất hiếm có ở Mỹ (gần đây, y khoa mới khám phá ra thêm các loại siêu vi trùng viêm gan F, và G).

     Siêu vi trùng viêm gan (Hepatitis Virus) có thể truyền nhiễm từ bệnh nhân sang những những người khác, qua sự giao hợp tình dục; hoặc do việc tiếp xúc bình thường.

     Trong số các loại viêm gan, bệnh viêm gan B có thể gây chết người, trong trường hợp nghiêm trọng. Tuy nhiên, bệnh này có thể đề phòng được, và việc chủng ngừa Hepatitis-B đang được tiến hành.

     Theo những trung tâm phòng bệnh Hoa Kỳ (The Centers for Disease Control and Prevention), hàng năm, có khoảng 200,000.-300,000.người Mỹ bị nhiễm bệnh viêm gan. Riêng viêm gan Hepatitis-B có khoảng 750,000 đến 1 triệu người Mỹ đang mang bệnh, và gần 6,000. người bị chết về bệnh này hàng năm.

     1.1-Siêu Vi Trùng Viêm Gan A (Hepatitis-A Virus):

     Siêu vi trùng viêm gan A gây nên tình trạng bệnh gan nhẹ và dễ lây nhất. Nó luôn luôn được truyền nhiễm qua việc dùng: các thực phẩm, nhất là đồ biển được ăn sống, hoặc nấu không thật chín, nước ô uế, đồ dùng phế thải, và tiếp xúc với người bị nhiễm bệnh như qua mồ hôi, nước bọt, thức ăn, máu người bệnh, hoặc giao hợp tình dục. Ngoài ra, việc giao hợp tình dục bằng đường miệng (Oral Sex), hoặc hậu môn (Anal Sex), là cách dễ bị nhiễm bệnh viêm gan Hepatitis-A.

     Thông thường, với những triệu chứng của bệnh nhẹ, bệnh nhân cần nghỉ ngơi, ăn uống có đủ chất dinh dưỡng, và chỉ kéo dài trong vài ngày rồi thuyên giảm. Mặc dù không chữa trị, đôi khi, dần dần tự nhiên cũng được lành bệnh. Trường hợp bệnh nặng, bệnh nhân nên vào nhà thương để chữa trị, vì bệnh do siêu vi trùng có thể gây chết người.

     Mặc dù tỷ lệ gây chết người của bệnh này rất hiếm. Theo thống kê, trong 1,000. bệnh nhân chỉ có khoảng 2 người bị tử vong. Đặc biệt, bệnh có tính cấp tính, không gây ra biến chứng trầm trọng cho gan.

     Sau khi lành bệnh, cơ thể bệnh nhân có được kháng tố, và có tính miễn nhiễm về sau đối với bệnh này. Để phòng bệnh viêm gan Hepatitis-A, người ta cần phải chích ngừa. Nhất là trước khi đi du lịch đến những nơi có dịch bệnh viêm gan truyền nhiễm.

    1.2-Siêu Vi Trùng Viêm Gan B (Hepatitis-B Virus):

     Siêu vi trùng viêm gan B được tìm thấy trong những môi trường thể lỏng của cơ thể như: máu, các sản phẩm trong máu, tinh dịch, nước bọt, nước tiểu, và chất nước tiết ra từ âm đạo của phụ nữ.

     Siêu vi trùng viêm gan B dễ truyền nhiễm xuyên qua những sinh hoạt tình dục, có liên quan đến sự trao đổi các chất lỏng của cơ thể. Ngoài ra, việc nhiễm bệnh Hepatitis-B còn tìm thấy bởi sự giao tiếp bằng đường máu của các vết thương trên cơ thể, việc dùng các kim chích, hoặc các lưỡi dao cạo dơ bẩn. Việc giao hợp tình dục với nhiều bạn tình khác nhau là một nguy cơ cao độ, dễ bị nhiễm bệnh viêm gan B.

     Trong thập niên 1990's, sinh hoạt đồng tính luyến ái (homosexual) là yếu tố nguy hiểm dẫn đầu đến bệnh viêm gan B, nhưng những sự thay đổi thái độ tình dục của giới này đã đưa đến tình trạng nhiễm bệnh AIDS-HIV, và đã làm giảm một phần lớn về cơn bệnh viêm gan B. Ngoài ra, những nữ bệnh nhân mang thai có thể truyền nhiễm bệnh viêm gan B cho thai nhi của họ.

     Sau khi siêu vi trùng viêm gan B xâm nhập vào cơ thể, chúng trực tiếp tấn công các tế bào gan, Siêu vi trùng có thể tiếp tục sinh sôi nẩy nở một cách nhanh chóng. Chúng có tính nguy hiểm hơn siêu vi trùng viêm gan A.

     Triệu chứng cũng giống như viêm gan A. Trung bình khoảng 90 ngày, bệnh bắt đầu bộc phát. Những kháng thể (immunoglobulin) trong cơ thể được sinh ra để bao vây nhằm chống lại những siêu vi trùng này.  Nếu những siêu vi trùng viêm gan B bị tiêu diệt, bệnh nhân sẽ được hoàn toàn lành bệnh. 

     Trái lại, những siêu vi trùng viêm gan B vẫn còn tiếp tục sinh sản, và tác hại tế bào gan. Những bệnh nhân này được gọi là nhóm người “Chronic Hepatitis Carrier”. Trong số bệnh nhân này, phân nữa số người được may mắn, gan của họ chưa bị tác hại, vì siêu vi trùng viêm gan B nằm trong tình trạng ngủ (Dormant State) không hoạt động.

     Những bệnh nhân viêm gan B cấp tính (Acute Hepatitis-B) phần đông đều được trị lành bệnh. Đôi khi, qua cuộc thử nghiệm máu, siêu vi trùng viêm gan B không còn thấy trong cơ thể nữa. Tuy nhiên, cũng có một số bệnh nhân sau khi lành bệnh, hoặc những người sức khỏe bình thường, nhưng trong người vẫn có mang những siêu vi trùng viêm gan B, mà không bị chúng tác hại. Vì siêu vi trùng viêm gan B chỉ nằm trong tình trạng “Ngủ” (Dormant State) không hoạt động.

     Những người này được gọi là nhóm người “Healthy Hepatitis Carrier“. Mặc dù, họ không bị bệnh viêm gan kinh niên, nhưng họ có thể truyền bệnh cho những người khác, với những siêu vi trùng viêm gan B của họ, người bị truyền nhiễm có thể bị bệnh nhẹ, hoặc nặng như viêm gan kinh niên, bị xơ gan, hay ung thư gan và đưa đến tử vong.

     Gan của nhóm người “Healthy Hepatitis Cancer” không cần chữa trị, nhưng hàng năm, họ cần được thử nghiệm, để theo dõi mức độ thay đổi chất “Transaminases”, và tình trạng gan của họ. Nếu cần thiết, y sĩ có thể dùng kim để lấy một ít mô tầng gan ra thử nghiệm theo phương pháp “Liver Biopsy”.

     1.3-Siêu Vi Trùng Viêm Gan C (Hepatitis-C Virus):

     Siêu vi trùng viêm gan C gây bệnh bằng cách giống như Siêu vi trùng viêm gan B, nhưng việc truyền nhiễm qua sự giao hợp tình dục đã không được xác nhận. Thông thường, nguyên nhân dẫn đầu để nhiễm bệnh viêm gan C là qua việc truyền máu. Hiện nay, việc cung cấp máu đã được kiểm soát cẩn thận, để loại bỏ cả hai siêu vi trùng viêm gan B và C. Do đó, hiện nay, mức giảm thiểu nhiễm viêm gan trong việc truyền máu trở nên rất khả quan.

     Theo thống kê, có từ 1% đến 1.5% người Mỹ bị bệnh viêm gan C; và hàng năm, có độ 150,000. người Mỹ bị nhiễm siêu vi trùng viêm gan C. Siêu vi trùng viêm gan C cũng nguy hiểm không kém viêm gan B, chúng có thể gây nên ung thư, hay chai gan của bệnh nhân.

2-TRIỆU CHỨNG BỆNH VIÊM GAN HEPATITIS:

     Nói chung, phần đông người bị nhiễm bệnh viêm gan, trong thời gian đầu tiên, không có những triệu chứng xuất hiện. Đây là tình trạng tịnh nhiễm (Silent Infection).

     Sau khi siêu vi trùng viêm gan xâm nhập vào cơ thể, khoảng 40-110 ngày, bệnh mới bộc phát, và có những triệu chứng giống như bị cảm cúm, cơ thể bị mệt mỏi, nhức đầu nhẹ, biếng ăn, ói mửa, buồn nôn, đi tiêu phân lỏng; đau nhức bắp thịt hoặc khớp xương, đau cổ họng vì bị ho nhiều.

     Nếu bệnh nặng, đau ở vùng bụng trên (bên phải nơi gan), da và mắt trở nên màu vàng, nước tiểu trở nên đậm màu, phân có màu như đất sét. Một số bệnh nhân còn phát hiện chứng ngứa da (Rash), hoặc phong thấp (Arthritis).

3-CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ:

     Trong việc chẩn đoán bệnh viêm gan, các y sĩ thường áp dụng những cuộc thử máu, để khám phá ra siêu vi trùng gây bệnh. Thông thường, bệnh viêm gan khó có thể được trị lành, việc điều trị nhằm phác họa, để tối thiểu hóa sự tổn hại của bộ phận gan.

     Hiện nay, các nhà nghiên cứu đang thử nghiệm sự công dụng của chất “Corticosteroid” và “Interferon”. Đối với bệnh viêm gan A, việc điều trị với “Gamma Globulin” trong vòng 2 tuần, sẽ có hiệu quả khoảng 80% - 90%.

     Những bệnh nhân viêm gan B còn được áp dụng việc điều trị với chất “Hepatitis-B Immunoglobulin”, để tạm thời chống lại với siêu vi trùng. 

     Còn với siêu vi trùng viêm gan C, các y sĩ dùng thuốc chích Alpha-Interferon(intron A), hoặc áp dụng cách chữa trị phối hợp  Rebetron: vừa chích thuốc Alpha-Interferon và uống thêm thuốc Ribavirin (Rebetol) để gia tăng sức mạnh chữa trị.

     Ngoài ra, hiện nay, còn có một số loại thuốc uống như Amatandine, Ribavirin, Levamisole cũng được dùng trong việc chữa trị bệnh viêm gan B và C. Tuy nhiên, thuốc interferon hiện nay vẫn được xem là loại thuốc duy nhất có thể tiêu diệt được siêu vi trùng viêm gan B và C.

     Hơn nữa, giới y khoa đang tiếp tục nghiên cứu, và hy vọng sẽ có những phương pháp mới để chữa trị bệnh viêm gan, hữu hiệu hơn trong tương lai. Hầu hết, bệnh viêm gan A có khuynh hướng ngắn hạn. Sau khi được trị lành bệnh, bệnh viêm gan A có thể tái phát.

     Đối với bệnh viêm gan B và C, đôi khi, bệnh nhân được bình phục hoàn toàn, nhưng họ cũng có thể trở nên kinh niên, và có khả năng truyền nhiễm cho người khác. Bệnh nhân viêm gan kinh niên có thể bị chứng Xơ Gan (Cirrhosis), hoặc gan bị suy yếu, một hình thức ung thư gan nguy hiểm đến tính mạng.

     Hiện nay, với sự tiến bộ y khoa, các y sĩ có thể áp dụng phương pháp ghép, hay thay gan (Liver Transplantation), từ một gan bình thường được hiến tặng, cho những bệnh nhân có bộ phận gan bị hư hoại hoàn toàn, vì những bệnh khác nhau kể cả viêm gan.

4-PHÒNG BỆNH VIÊM GAN HEPATITIS:

     Để giảm thiểu sự nhiễm bệnh viêm gan, thông thường, người ta nên tránh dùng những thực phẩm và nước bị ô nhiễm; nên rửa tay thường xuyên, nhất là trước khi ăn uống; tránh sự giao tiếp với các chất lỏng cơ thể của kẻ khác; kể cả nước bọt, mồ hôi; tránh dùng những kim châm chích dơ bẩn; nên dùng bao cao su (Condoms) trong lúc giao hợp tình dục; cũng như tránh việc giao hợp tình dục bằng miệng (Oral Sex), và hậu môn (Anal Sex).

     Hơn nữa, việc chủng ngừa viêm gan là sự kiện an toàn, có hiệu quả cao. Vì vậy mỗi người nên thực hiện việc chủng ngừa viêm gan định kỳ. Nhất là những người thường ở vào những môi trường nguy hiểm như: cán sự y tế, những người dùng kim để chích thuốc, những người đồng tính luyến ái, những người có sự giao hợp tình dục với nhiều bạn tình khác nhau. Vào năm 1996, giới thẩm quyền y khoa Hoa Kỳ đã có luật bắt buộc việc chích ngừa viêm gan B cho tất cả bé sơ sinh, vừa mới chào đời.

     Hiện nay, mặc dù việc chủng ngừa viêm gan B và C đã và đang được thực hiện, nhưng viêm gan C vẫn còn chưa có thuốc chủng ngừa, hy vọng trong tương lai gần, giới y khoa sẽ tìm ra được thuốc chủng ngừa viêm gan C.

     Trước khi muốn chủng ngừa, chúng ta cần phải qua một cuộc thử nghiệm máu, để tìm xem cơ thể chúng ta đã có kháng thể (Anti-body) chống lại siêu vi trùng viêm gan A và B chưa? Trong việc thử nghiệm máu này, y sĩ cũng có thể biết được có sự hiện diện của Siêu Vi Trùng Viêm Gan B hay không.

     Đồng thời, cũng biết được mức độ cao thấp của chất Aminotransferases, do gan tiết ra khi gan bị viêm. -Nếu có kháng thể (Anti-body) chúng ta không cần phải chích chủng ngừa, vì cơ thể chúng ta đã có tính miễn nhiễm viêm gan rồi. -Nếu chưa có Kháng thể (Anti-body) chống lại Siêu Vi Trùng Viêm Gan A. Chúng ta nên chích ngừa viêm gan A, trước khi đi du lịch những vùng có tỷ lệ bệnh viêm gan cao. Nhất là Á châu.

     Nếu chưa có kháng thể (Anti-body) chống lại Siêu Vi Trùng Viêm Gan B. Chúng ta nên chích ngừa viêm gan B, càng sớm càng tốt; để cơ thể chúng ta có tính miễn nhiễm viêm gan B suốt đời.

     Tóm lại, bệnh viêm gan là loại bệnh nguy hiểm cho con người. Chúng ta nên phòng bệnh hơn trị bệnh. Vì vậy, chúng ta nên đến thăm y sĩ để được thử nghiệm máu, và thực hiện việc chủng ngừa bệnh viêm gan, càng sớm càng tốt./.

     -Dr. VŨ ĐỨC Âu Vĩnh Hiền, N.D.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

    

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn