GIỚI THIỆU NHAN ĐỀ SÁCH SỐNG KHỎE HẠNH PHÚC

14 Tháng Bảy 20166:51 CH(Xem: 5594)


Bác Sĩ TRẦN VĂN TÍCH, M.D.

-Cựu Y Sĩ Trưởng  Bệnh Xá,

Nha Hành Chánh & Nhân Viên Phủ Tổng Thống;

-Cựu Giảng Viên, Đại Học Y Khoa Huế và Minh Đức.

   Nhận Định & Giới Thiệu Tác Phẩm

" SỐNG KHỎE HẠNH PHÚC 
 
Dưỡng Sinh Quan Hiện Đại "

 -Tác Giả, Dr.Vũ Đức Âu Vĩnh Hiền


     Sách Sống Khoẻ Hạnh Phúc, Dưỡng Sinh Quan Hiện Đại mang đầu đề khá dài vì nội dung sách bao quát, rộng lớn. Tác giả gởi đến người đọc những thông tin khoa học thuộc nhiều lĩnh vực phức tạp trong cuộc sống ngày nay.

     Chúng ta được chỉ dẫn về dưỡng sinh học như cách ăn uống hằng ngày, cách vận động cơ thể v.v.. Chúng ta được cung cấp tri thức về lối sống đúng đắn nhằm chống stress, nhằm phòng bệnh v.v.. Chúng ta còn được khuyên nhủ làm thế nào để chi phối, chế ngự sự sợ hãi, sự tức giận v.v.. Chúng ta cũng được trang bị kiến giải về thói quen ngôn ngữ, về quản lý tài chánh v.v..

     Nhưng sách còn đi xa hơn. Tiến sĩ Vũ Đức Âu Vĩnh Hiền từ chuyên khoa vệ sinh dinh dưỡng bước qua các phạm trù triết học đạo đức như quan niệm về hạnh phúc, thái độ sống thuận hoà với tha nhân và tập thể v.v..

     Tác giả còn “dấn thân“ vạch lối chỉ đường cho thanh niên nam nữ đi tìm đối tượng tâm lý và xây dựng cuộc sống lứa đôi hài hoà.

     Đọc Vũ Đức Âu Vĩnh Hiền, tôi thích thú vui mừng tìm được người tri kỷ. Tôi thấy trong sách của Anh những bằng chứng thuyết phục liên quan đến văn hoá, y học phương đông. Tôi thấy tất cả tính người và tình người qua đại dương thời gian và không gian bàng bạc trong toàn bộ tác phẩm, từ đầu đến cuối, từ đại thể đến chi tiết, từ nguyên lý đến ứng dụng, từ lý thuyết thuần túy đến thực tế cụ thể. Trong sách Sống Khoẻ Hạnh Phúc, Dưỡng Sinh Quan Hiện Đại tư duy qui củ dẫn đạo đầu óc tinh tế theo tâm thức và kiến thức đông phương, có lẽ nhiều khi một cách không hẳn là cố ý, chủ tâm.

     Xin nêu một chi tiết cụ thể nhỏ nhặt: trang 52 khuyên chúng ta nên có giấc ngủ ngắn từ 15 đến 30 phút vào mỗi trưa để dưỡng sức. Một lời khuyên không quá khó thực hiện, ngay cả trong cuộc sống xô bồ căng thẳng nơi các quốc gia kỹ nghệ. Nhất là nếu chúng ta biết rằng quan niệm về chiếc đồng hồ sinh lý của y khoa Tuệ Tĩnh-Lãn Ông qua góp nhặt kinh nghiệm hằng thiên kỷ đã chỉ rằng khí của tiểu trường vượng vào giờ mùi. Giờ mùi kế tiếp giờ ngọ, ai cũng biết; và ai cũng biết rằng đúng ngọ là giữa trưa. Như thế giờ mùi là khoảng từ 13 đến 15 giờ. Bữa ăn chính của rất nhiều sắc dân trên thế giới là bữa ăn trưa.

     Sau bữa ăn, cơ thể chuyển qua tiêu hoá mà quá trình tiêu hoá chủ yếu diễn ra ở dạ dày-ruột non, do đó, y học của cha ông chúng ta mới chủ trương giờ mùi là giờ khí tiểu trường vượng. Để tạo thuận lợi cho chức năng tiêu thực hấp thụ thực phẩm, một giấc ngủ ngắn hay nửa giờ tỉnh thần sau bữa ăn trưa là biện pháp dẫu rằng đơn giản nhưng lại có thể được xem là gần như tối ưu.

     Cũng tương tự như vậy, thải bỏ phế vật tiêu hoá qua đường ruột già lúc sáng sớm là hợp lẽ điều dưỡng nhiếp sinh vì khí của đại trường vượng vào giờ mão, tức khoảng từ 6 đến 8 giờ. Tiết điệu sinh sống ấy của chúng ta dẫu có thể thay đổi phần nào vì những điều kiện khác biệt, vô hình trung vẫn chỉ là bóng mờ của một tiết điệu rộng lớn chi phối cả cõi hoàn vũ. Nếu ăn uống vào những giờ giấc khác, nếu ruột non ruột già không được vận dụng vào những thời khắc thích nghi, nếu quả tim phải oằn mình gánh vác một công việc nặng nhọc vào lúc tâm khí suy giảm thì khó lòng tránh khỏi rối loạn xảy đến.

    Hai chương bàn về kiểm soát sợ hãi và kiểm soát tức giận từ trang 329 đến trang 343 là hai chương tâm đắc của bộ môn y khoa tâm-thể theo nhãn quan đông y. Tác giả nhận định rằng vào nhiều trường hợp, sự sợ hãi gây ra một kết quả không tốt, và là một tổn hại hoàn toàn. Tác giả cũng chủ trương rằng sự tức giận có thể gây ra bệnh nhức đầu, và làm xáo trộn việc tiêu hoá. Thật là tri kỷ với y học cổ truyền, vốn đề xướng rằng sự xáo trộn tình chí có liên quan đến cơ năng ngũ tạng. Không đi sâu vào chi tiết phức tạp về những học thuyết ngũ chí, thất tình, chúng ta chỉ cần biết rằng khi hoạt động của năm loại tình chí mất điều hoà, thường là thái quá, nhưng cũng có khi ức chế, thì sẽ dẫn đến bệnh lý cơ năng rối loạn khiến chân âm của tạng phủ khuy tổn, từ đó xuất hiện nhiều chứng trạng phức tạp mà giới lương y qui nạp thành khái niệm hội chứng ngũ chí hoá hoả. Sợ hãi quá mức háo thương thận khí, khiến tinh khí bị nén xuống không nâng lên được, do đó gây nên di tinh, hoạt tiết, đại tiểu tiện không tự chủ, mỏi mệt đau lưng, ù tai nặng tai v.v.. Nộ thương can nên tức giận – nhất là các bà giận chồng! – nếu xẩy ra thường xuyên sẽ gây chứng đầu thống vì cơn giận khiến khí vận chuyển trái nghịch, thăng phát quá độ, dẫn lên phần trên cơ thể, mà hệ thần kinh trung ương là bộ phận phản ứng nhanh nhạy nên migraine rất dễ xẩy ra…

     Đương nhiên các chương Khí Công Dưỡng Sinh, Hô Hấp Trong Khí Công, Mười Tám Vận Động Đả Thông Kinh Mạch là những chương mang nội dung hầu như thuần túy đông y. Y học khoa học càng ngày càng tiến bộ, đó là điều hiển nhiên. Nhưng song song với sự tiến bộ của tây y, dân chúng các nước kỹ nghệ càng ngày càng mang tâm lý mến chuộng đông y.

     Một trong những hình thức sử dụng đông y vào điều trị các sắc dân tây phương là kết hợp y học hiện đại phương tây với y học cổ truyền phương đông. Nhiều bệnh viện đông y hiện đang hoạt động có hiệu quả ở châu Âu, bên cạnh các bệnh viện tây y-đông y. Trong những cơ sở điều trị này, người bệnh – và cả y giới tây phương – bắt đầu chấp nhận hình thức chữa trị phối hợp khí công, án ma, châm khoa , thuật cứu, dinh dưỡng; khác với trước kia, hầu như giới bệnh nhân và giới thầy thuốc chỉ biết đến châm khoa như là liệu pháp duy nhất của đông y. Và nhiều người phương tây bây giờ rất sẵn sàng nghe theo lời khuyên bảo hằng ngày nên cố gắng dành ít thì giờ tập luyện khí công.     

     Đông y vẫn quan niệm y thực đồng nguyên, y khoa và dinh dưỡng vốn có chung nguồn. Truyền thống xem thức ăn cũng là những vị thuốc là một truyền thống bắt rễ rất sâu trong lòng văn hoá phương đông. Khi đau sắc thuốc uống thuốc cũng như khi khoẻ pha trà nhấp trà. Xương thú có thể hầm để nấu cháo thì cũng có thể cô để chế cao. Thành ra ngày thường chúng ta dùng thực vật, động vật làm thực phẩm thì khi ốm đau, chúng ta cũng lại dùng thực vật, động vật làm dược liệu.

     Qua đại dương thời gian và không gian, các kiến thức dinh dưỡng ẩm thực đương nhiên đã được kiểm tra, canh cải. Tuy nhiên chiều hướng chung có phần thiên về định lượng trong điều chỉnh rối loạn do ăn uống, chẳng hạn nếu gặp chứng cholesterin trong máu cao thì cần tránh thức ăn nhiều cholesterin, nếu bị bệnh tiểu đường thì phải theo một thực đơn ít sinh đường.

     Chỉ mới gần đây thôi, dinh dưỡng học mới chú tâm nghiên cứu khía cạnh định tính của chế độ ẩm thực, nhằm tìm hiểu tại sao cùng một thức ăn mà người bệnh mỗi người vận dụng và hấp thụ mỗi khác.

     Nói cách khác, dinh dưỡng học hiện đại đang phát hiện là cần lưu tâm đến những góc độ công năng và điều hợp của thực phẩm. Đâu đâu trong trọn chương Dinh Dưỡng Ẩm Thực người đọc cũng cảm nhận được tinh thần chỉ đạo này nhằm ứng dụng cụ thể vào thực đơn thực tế thường nhật.

     Cuối cùng, xin ghi nhận thêm một điểm son, thuộc phạm vi hình thức biên soạn : tác giả rất sẵn sàng ghi thêm từ ngữ tiếng Anh sau các từ tiếng Việt; điều này khiến việc gởi trao kiến giải khoa học rõ ràng và chính xác, khiến chuyện tiếp thu thông tin khoa học nhẹ nhàng và dễ dàng.

Xin cám ơn soạn giả đã cho tôi cơ hội viết những dòng giới thiệu này, những dòng giới thiệu mà tôi viết với tấc lòng tri ân tri âm.          

Bonn, Germany, ngày 01.12.2008 .

Bác Sĩ  TRẦN  VĂN  TÍCH, M.D., Cựu Y Sĩ Trưởng

 Bệnh Xá, Nha HC & NV/Phủ Tổng Thống VNCH,

& Cựu Giảng Viên, Đại Học Y Khoa Huế & Minh Đức.

 

 

 

 

 


 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn