CÕI ÂM CÓ HAY KHÔNG ?

Thursday, July 14, 20166:51 PM(View: 5354)






CÕI ÂM CÓ HAY KHÔNG?

-Minh Chi

Phật giáo không bao giờ có khái niệm cõi âm hay là âm phủ. Có thể đây

là những từ ngữ của tín ngưỡng dân gian, hay là của Lão giáo, không

phải Lão giáo của cuốn Đạo Đức kinh mà là một thứ Lão giáo dân gian

hóa.
Nhưng để cho vấn đề rất phức tạp này được trình bày có hệ

thống, thuận lợi cho quý vị, tôi xin phép trình bày qua ba mục lớn

như sau: 

-Thái độ của Phật giáo đối với vấn đề sống chết và đối với các thái

độ khác.

-Các cõi khác nhau.  
 
-Cõi trung ấm của Phật giáo có phải là cõi âm hay không? 
 

1. Thái độ của đạo Phật đối với vấn đề sống chết. 

Đối với vấn đề này, có thể có bốn thái độ và nhận thức khác nhau: 

     a.Thái độ của các nhà duy vật cổ cũng như hiện đại. Chết rồi là hết,

không còn gì nữa; mọi chuyện xảy ra sau khi chết là chuyện tưởng

tượng.Chủ thuyết này có thể dẫn tới một thái độ coi thường đạo đức,

đề cao lối sống hưởng thụ, lối sống gấp. 

     b.Chủ nghĩa hoài nghi, thể hiện trong câu nói của Khổng Tử "Sống

còn chưa biết thì biết chết làm gì?" hay là câu của triết gia Hy Lạp

cổ đại Epicuya: "Khi tôi sống thì làm sao biết được chết là gì.

Khi tôi chết rồi, lại càng không thể biết chết là gì".  

     c.Quan niệm của một số tôn giáo thần quyền. Người ta sống chết

chỉ có một lần. Nếu sống tốt, theo đúng lời dạy của Thượng đế thì

chết rồi sẽ lên thiên đàng cùng ở với Thượng đế. Nếu sống ác,

trái với lời dạy của Thượng đế thì sẽ chết rồi xuống âm phủ ở

với quỷ. Quan niệm như trên đối với một số người, (tôi không

nói là đối với tất cả) dẫn tới một lối sống bức xúc, đầy mặc cảm, không

rõ mình sống như thế này đã hợp với ý của Thượng đế hay chưa v.v...  

     d.Quan niệm sống, chết chỉ là hai mắt xích trong một chuỗi sinh tử

dài vô tận, từ vô thủy cho đến ngày giải thoát tối hậu, con người đạt tới

cảnh giới bất tử. Đây là quan niệm của đạo Phật và một số đạo giáo và

triết thuyết ở Ấn-Độ. Người ta không phải sống và chết một lần. Có sống

thì có chết. Chết là điều không tránh khỏi. Nhưng chết rồi lại sống một

đời khác, và cứ như vậy luân hồi mãi cho tới ngày giải thoát tối hậu. Sự

sống là bất diệt, nhưng nó mang nhiều dạng sống khác nhau ở các cõi

sống khác nhau. Động lực của sự sống là nghiệp (Karma). Nghiệp

thường được giải thích một cách đơn giản là hành động.

Nhưng Phật Thích Ca từng giải thích nghiệp là tác ý,

nghĩa là dụng tâm. Do đó, có thể giải thích nghiệp là

hành động có dụng tâm. Khi đã có dụng tâm thì mọi lời nói hay

hành động bắt nguồn từ dụng tâm đều là nghiệp. Trái lại,

mọi lời nói hay hành động không có dụng tâm, đều không
 
phải là nghiệp, theo đúng ý nghĩa Phật giáo của từ này.

Có thể nói một cách khác, mọi hành động, lời nói có dụng

tâm hay là có ý thức đều là nghiệp, và trở thành động lực

góp phần tạo ra con người chúng ta, cuộc sống chúng ta đời

này và đời sau. Nghiệp có tầm quan trọng như vậy đối với

con người và cuộc sống con người, cho nên Phật,

trong bài kinh "Tiểu nghiệp phân biệt" (Trung bộ kinh 3)

đã định nghĩa: 

"...Các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, thừa tự của

nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc,

nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình"

 (Trung bộ III. Kinh Tiểu nghiệp phân biệt, tr 381).  

Nội dung câu Phật nói rất rõ. Người là chủ nhân của

nghiệp do mình tạo ra, người cũng nhận lãnh đủ mọi

quả báo do chính mình tạo ra đó không tách rời mình,

do đó mà Phật nói nghiệp là quyến thuộc đích thực. Vì chết,

không bà con quyến thuộc nào dù thân thiết đến đâu cũng không

thể đi theo mình được, nhưng nghiệp vẫn đi theo mình,

quyết định hướng tái sanh của mình trong đời kế tiếp:

thân phận mình sẽ thế nào, làm người, làm loài trời

hay là súc sanh... và cảnh ngộ của mình sẽ ra sao...

Phật nói: nghiệp là điểm tựa. Ý nói, cuộc sống chúng ta dựa vào

nghiệp để tồn tại như điểm tựa. Khi nghiệp lực nuôi dưỡng
 
cuộc sốngđời này hết thì chúng ta sẽ chết, cũng như cái đèn

cạn dầu vậy. Cũng có sách Phật ví nghiệp như cái trục

của bánh xe. Cuộc sống

của chúng ta xoay xung quanh nghiệp như là cái bánh xe xoay

quanh cái trục của nó vậy. Trong ba nghiệp: ý nghiệp, khẩu

nghiệp và thân nghiệp; thì quan trọng nhất là ý nghiệp, tức là

nghiệp do ý nghĩ có dụng tâm tạo ra. Chính cái ýnghĩ có dụng tâm

này là cốt lõi, là thực chất của khẩu nghiệp, tức là nghiệp bằng lời

nói, và thân nghiệp là nghiệp bằng hành động nơi thân.

Kinh Pháp Cú mở đầu bằng các câu kệ: 

* Bài kệ I ?  

"Ý dẫn đầu các pháp, 

Ý làm chủ ý tạo,
 

Nếu với ý ô nhiễm,
 

Nói lên hay hành động,
 

Khổ não bước theo sau, Như xe, chân vật kéo"
 

(Kinh Pháp Cú, bản dịch Thích Minh Châu, tr 11)  

Ý tứ bài kệ trên rất rõ ràng:  

Tâm ý trong con người là cái làm chủ. Nếu tâm ý là ác, bất thiện, dơ bẩn

thì lời nói hay hành động cũng bất thiện, ác, dơ bẩn; và con người

sẽ bị đau khổ tức thì, cũng như bánh xe lăn theo chân con bò

kéo xe vậy. 
Chính vì vậy mà người Phật tử thâm hiểu thuyết

nghiệp hết sức chú ý tu tập tâm, khiến cho tâm mình ngày càng

trở nên trong sáng, hoàn toàn thiện lành. Cũng kinh Pháp Cú

dạy rằng, kẻ thù hại mình cũng không bằng cái tâm nghĩ bậy

làm hại mình. Cha mẹ, bà con làm tốt cho mình,

không bằng cái tâm nghĩ thiện đem lại lợi ích cho mình. 

"Kẻ thù hại kẻ thù, 

Oan gia hại oan gia,
 

Không bằng tâm hướng tà,
 

Gây ác cho tự thân".
  

* Bài kệ 43: 

Điều mẹ cha, bà con, 

Không có thể làm được,
 

Tâm hướng chánh làm được,
 

làm  được còn tốt hơn"
  

Như trên đã nói, thế giới vũ trụ này có muôn vàn sai biệt là do

nghiệp của chúng sanh có thiện có ác, có lành có dữ, hay là

thiện ác xen lẫn với những mức độ khác nhau. Đạo Phật không

có quan niệm hẹp, trái đất là cõi duy nhất có sự sống;

cũng không xem loài người là tối linh trong muôn loài,

như đạo Khổng thường nói. 


2. Các cõi sống khác nhau, các dạng sống khác nhau. 
 

Qua các khái niệm tiểu thiên thế giới, trung thiên thế giới, đại thiên thế

giới, chúng ta biết đạo Phật chưa từng bao giờ xem trái đất chúng ta

như là trung tâm của thế giới, của vũ trụ. Một tiểu thế giới được

xem như là một Thái dương hệ, trong đó có trái đất.

Một ngàn tiểu thế giới hợp lại, tạo thành một tiểu thiên

thế giới; một nghìn tiểu thiên thế giới hợp lại thành một

trung thiên thế giới; và một nghìn trung thiên thế giới hợp lại

thành một đại thiên thế giới. Trong sách Phật có khái niệm tam

thiên đại thiên thế giới, nhằm chỉ một quần thể ba nghìn đại thiên

thế giới, mà có học giả hiện đại ví với những hệ tinh vân của

thiên văn học hiện đại. Ở đây, chúng ta không thể bàn đến

độ chính xác của các con số, nhưng điều đáng ghi nhận, ngay từ

hơn 500 năm trước TL, đạo Phật đã có một quan niệm về không

gian gần gũi với thiên văn học hiện đại. 
Trên đây, đã nói về

không gian. Bây giờ nói đến các cõi sống. Như đã nói trên, đạo

Phật không xem cõi người là trung tâm điểm của thế giới, cũng

không xem người là loài vật tối linh. Nói chung, đạo Phật chia các cõi

sống ra làm ba cõi, tùy theo trình độ tâm linh. Nói luân hồi trong

ba cõi, chính là nói luân hồi trong ba cõi đó. Ở cõi trời cao cấp nhất,

gọi là cõi Vô sắc; chúng ta gặp những chúng sanh, thường xuyên

ở trong thiền định, không có sắc thân như thân thể riêng biệt của

chúng ta, mà chỉ sống cuộc sống tinh thần thuần túy.

Cõi Vô sắc chia ra bốn cấp có trình độ cao thấp khác nhau. 

Cõi thứ hai gọi là Sắc giới. Chúng sanh ở đây có sắc thân

đẹp đẽ sáng chói, nhưng không có phân biệt nam nữ,

vì ở đây không còn có lòng dục, tức là dâm dục.  

Cõi Sắc giới này cũng chia thành nhiều cấp, ở đây không

tiện bàn, vì không có thời gian.
Cõi thứ ba thấp nhất

chính là cõi của những chúng sanh còn có lòng duc,

tức dâm dục, cho nên có phân biệt nam nữ. Cõi người

chúng ta nằm trong Dục giới. Cõi người không phải là cõi sống

có trình độ cao nhất trong Dục giới. Có 6 cõi trời cũng nằm

trong Dục giới, gọi là Lục dục thiên. Ở đây chúng sanh có thọ

mạng dài hơn thọ mạng của loài người rất nhiều. Sách Phật

đơn cử ví dụ của cõi trời thấp nhất trong sáu cõi trời nói trên,

tức là cõi Bốn thiên vương, ở đây một ngày đêm bằng 50 năm ở cõi

người. Do thời gian khác nhau giữa cõi trời và cõi người, cho nên

tuy việc các loài trời đến thăm cõi người là có khả năng, nhưng

thật là hãn hữu lắm họ mới đến. Thí dụ, sách Phật có nói tới một

loài trời có tên là Quang âm thiên; khi trái đất mới thành hình

và đã có điều kiện cho sinh vật ở được, thì có loài trời Quang

âm thiên xuống đây. Thân hình họ chói sáng. Họ bay chứ không

đi như con người. Họ nói chuyện giao tiếp nhau bằng ánh sáng,

do đó mà có từ Quang âm. Giống người trời này về sau ăn thức

ăn thô nặng, cho nên dần dần thân họ cũng trở nên thô nặng,

không còn bay được, không còn chói sáng và dần dần chuyển

thành thân người.
Nói chung, quyền năng của loài trời cao

hơn quyền năng hạn chế của con người rất nhiều.

Sách Phật nói tới con mắt của loài trời có thể nhìn qua

vật cản, nhìn rất xa, gọi là thiên nhãn. Sách Phật cũng nói

tới tai loài trời, có thể nghe rất xa gọi là thiên nhĩ. 
Cõi sống

cấp thứ hai trong Dục giới là cõi loài A tu la (Asuras). Loài Asuras

tuy có quyền năng hơn loài người và không kém gì loài trời, nhưng

chúng hay sân giận, hay sân chiến với loài trời. Có sách gọi họ

là Hung thần. Đàn ông dung mạo xấu xí, nhưng đàn bà lại rất đẹp. 

Cõi thứ ba về trình độ quyền năng là cõi người. Cõi trời có lòng dục,

cõi A tu la và người được sách Phật xếp là ba cõi thiện, ba cõi lành.

Dưới ba cõi này còn có ba cõi ác là cõi súc sanh, cõi quỷ đói

và cõi địa ngục. Cõi súc sanh thì ai cũng biết và mục đích một phần.

Quỷ đói là loài thường xuyên bị đói do sự mất cân đối trong cấu

tạo cơ thể: bụng thì to như cái trống, cuống họng thì bé

như cái kim. Địa ngục không phải cái ngục ở dưới đất, như danh

từ địa ngục gợi ý. Địa ngục chỉ cho những cõi sống rất khổ cực,

không thể đem so nỗi khổ cực của thế giới con người. Sách Phật

nói tới những địa ngục khác nhau, như địa ngục nóng địa ngục

lạnh, địa ngục Vô gián là địa ngục cực khổ nhất, cực khổ không

xen hở nên gọi là Vô gián. 
Sách Phật nói tới luân hồi trong sáu

đường, tức là luân hồi trong ba cõi thiện và trong ba cõi ác.

Thực ra, chúng sanh ở hai cõi trời Sắc giới và Vô sắc giới

cũng không thoát khỏi cảnh luân hồi, tuy rằng thọ mạng của họ

có thể kéo dài hàng vạn, hàng chục vạn năm.
Qua phác họa

nói trên về các cõi sống khác nhau theo Phật giáo, thì không có

cõi nào là cõi của người chết cả. Vì vậy mà ngay từ đầu bài, tôi

đã nói, trong đạo Phật không có khái niệm cõi âm hay âm phủ.

Chết là cái tạm thời, sự sống là vĩnh hằng và thể hiện qua

những dạng sống khác nhau, trong các cõi sông khác nhau,

từ thấp tới cao. Người Phật tử hiểu đạo không lo âu về sự chết,

vì đã có sống, có sanh ra, thì có chết. Người Phật tử có trí và

hiểu đạo chỉ quan tâm khiến cho mỗi đời sống là một bước tiến

trên con đường tiến bộ tâm linh không ngừng, dẫn tới sự giải

thoát và giác ngộ tối hậu, là cảnh giới bất tử của bậc Thánh.

Để kết thúc mục này, cho phép tôi dẫn chứng hai bài thơ Thiền

của Thiền sư Tri Bát, Thiền sư Từ Đạo Hạnh.

Cả hai vị này đều sống dưới đời nhà Lý. 

Bài thơ của Tri Bát đọc như sau:  

Hữu tử tất hữu sinh, 

Hữu sinh tất hữu tử
 

Tử vi thế sở bi,
 

Sinh vi thế sở hỷ
 

Bi hỷ lưỡng vô cùng,
 

Hỗ nhiên thành bỉ thử.
 

Ư chứ sinh tử bất quan hoài.
 

Dịch nghĩa:  

Có chết thì mới có sanh (trở lại) 

Có sanh ra thì có chết.
 

Chết thì người đời buồn,
 

Sanh thì người đời vui
 

Buồn vui là hai cái lặp đi lặp lại vô cùng tận,
 

Vì đối đãi nhau cho nên thành ra cái nọ đối với cái kia.
 

(Cho nên) đối với sanh tử, sống chết không có lo âu gì...)
 

Còn bài thơ của Từ đạo Hạnh đọc như sau: 

"Thu lai bất báo nhạn lai quy, 

Lãnh tiếu nhân gian động phát bi,
 

Vị báo môn nhân hưu luyến trước.
 

Cổ sư kỷ đổ tác kim sư".
 

* Dịch ý: 

Mùa thu về không báo thì chim nhạn cũng bay về, 

Cười nhạt người đời hay bi thương
 

Nay ta bảo cho học trò đừng có thương tiếc (ta).
 

Ngày xưa ta đã từng làm sư, và đã nhiều đời ta lại làm sư

Ý tứ của bài thơ của Từ đạo Hạnh là con người, lúc thọ mạng hết

thì chết,cũng như mùa thu về thì chim nhạn cũng bay về. Ta

cười nhạt người đời cứ thấy chết là bi thương. Nay ta bảo

học trò ta chớ có lưu luyến ta nữa.

Ngày xưa ta đã từng làm sư, và đã nhiều lần ta lại làm sư. 

Hai bài thơ Thiền của hai Thiền sư đời Lý phản ánh tâm lý bình

thản, siêu thoát của những Phật tử thâm hiểu đạo lý sống

chết của Phật giáo. Chết đối với họ không phải là về nơi yên

nghỉ cuối cùng, mà là chuẩn bị tiến vào một cuộc sống mới,

được họ chuẩn bị một cách có ý thức, bằng cả một cuộc đời,

bằng từng giây phút của cuộc đời họ, bằng từng ý nghĩ, lời

nói và việc làm của họ thiện lành, trong sáng. 

Ở đây, người Phật tử có trí và hiểu đạo có hai sự chuẩn bị.

Một là sự chuẩn bị lâu dài cho đời sống tiếp sau. Hai là chuẩn

bị cho cái chết sẽ đến, mà họ muốn là nhẹ nhàng êm ả như

lá thu rụng.
Cả hai sự chuẩn bị trên đều quan trọng, ảnh hưởng

lẫn nhau. Một người cả đời làm điều lành, nói lời tốt, có tâm tư

và ý nghĩ trong sáng thì khi lâm chung, thường giữ được sự tỉnh

táo và ra đi một cách êm đẹp, sạch sẽ.
Trong vòng một tuần

trước khi chết, họ thường biết là họ sắp chết, cho nên họ có

thời giờ và điều kiện dặn dò lại mọi người trong gia đình. Họ

thường xuyên nghĩ lại, nhớ lại những điều thiện họ đã làm trong

đời, họ thường nằm mơ thấy những cảnh đẹp cho nên nơi tâm

họ luôn an vui thoải mái. Đó là những điềm báo trước một đời

sống kiếp sau rất tốt đẹp, có thể là ở cõi người hay là ở các cõi trời. 

Sách Phật kể lại có những người chết mà trong nhà có hương thơm

phảng phất, có ánh sáng lạ, thậm chí có cả tiếng nhạc du dương.

Đây không những là điềm lành mà là điềm rất lành.

Vua Trần nhân Tông sau khi thoái vị, xuất gia làm Tăng,

trở thành vị Tổ sáng lập ra dòng Thiền trúc Lâm, cũng gọi

là dòng thiền Yên Tử. Ông biết trước nhiều tháng ngày giờ ông

qua đời, cho nên đã sắp đặt đâu đấy chuyện người kế vị ông

làm Tổ thứ hai của dòng Thiền Trúc Lâm, tức là Tổ Pháp Loa;

lại có thời giờ đến vĩnh biệt bà chị, trước khi cùng với hai

Tăng sĩ dìu dắt ông, leo lên ngôi chùa cao trên núi Yên Tử,

ngồi nhập định mà qua đời. 

Quyển "Thiền Uyển tập anh" là quyển sách sử xưa nhất

chép tiểu sử các cao tăng Việt Nam có ghi chép chuyện

một số nhà sư Việt Nam đã ngồi nhập định như vậy mà

ung dung qua đời. Ở chùa Đậu, cách Hà nội khoảng 15km

về phiá huyện Thường Tín, còn có tượng hai vị sư đã chết

trong tư thế ngồi như vậy. Học trò của hai vị đã dùng

sơn đen phủ lên nhục thân của hai ông. 
Cách đây vài năm,
 
các giáo sư, bác sĩ ở bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) đã

khám nghiệm hai bức tượng "nhục thân" và xác quyết đó

không phải là tượng bình thường mà là hai xác chết,

phủ lêntrên một lớp sơn đen dầy.
 

Nói tóm lại, chết không phải hết tất cả, chết là bắt đầu

một cuộc sống mới; tốt đẹp hay là không tốt đẹp,

là tùy theo nghiệp được tạo ra trong đời sống này.

Cuộc sống thiện lành sẽ đem đến một cái chết êm ả, bình

tĩnh và một cuộc sống đời sau cũng tốt đẹp hạnh phúc. 


3. Cõi trung ấm hay trung hữu theo Phật giáo 

    có phải là cõi âm hay không? 

Theo đạo Phật, một số người không phải là tất cả, sau khi chết

có thể trải qua một cuộc sống trung gian gọi là trung hữu

hay trung ấm, trước khi tái sanh vào một cõi sống mới,

với một thân phận mới.
Tôi nói một số chứ không phải

tất cả mọi người là vì có những người chết thì lập tức tái sanh

ngay hay là hoá sanh ngay qua một cuộc sống khác,

với một thân phận khác. Hai loại ví dụ thường được sách Phật

dẫn chứng nhất là những người sống cực ác, thì khi chết

lập tức hóa sanh xuống địa ngục, cõi quỷ đói

hay là súc sanh. Hay là những người trong đời sống rất thiện

lành, khi chết cũng hoá sanh lên các cõi trời. Chỉ có những người

sống cuộc đời thiện ác xen lẫn, thì thường chết rồi không tái

sanh ngay mà trải qua một cuộc sống trung gian, tạm thời,

được tin là nhiều nhất cũng không quá 7 tuần, tức 49 ngày.

Người chết, trút bỏ cái thân làm bằng loại vật chất thô nặng,

mang một cái thân khác, làm bằng loại vật chất tế nhị,

với những giác quan đầy đủ như giác quan của người sống,

nhưng cũng tạo bằng loại vật tế nhị ( mà sách Phật gọi là tịnh sắc
 
hay sắc thanh tịnh), do đó mà giác quan của thân trung hữu

hay trung ấm tinh tế và nhạy bén hơn giác quan của

người sống rất nhiều. Họ thấy chúng ta được, nhưng chúng ta

không thấy họ được. Họ có thể đi bình thường hay là có thể
bay tùy ý. Thân trung ấm có thể bay qua hay đi qua các vật cản,

không bị trở ngại. Do đó mà khi cha mẹ tương lai của thân

trung ấm giao hợp, nếu đủ nhân duyên tương xứng, thì

thân trung ấm đến nơi trong nháy mắt và chui vào bụng mẹ,

kết thành bào thai một cách dễ dàng. Mặc dù họ thấy,

nghe chúng ta, nhưng họ không thể giao tiếp với chúng ta

như người sống với người sống được. Họ có cảm giác bất lực

rất là bức xúc, khi họ muốn tiếp xúc với những người sống,

thường là bà con thân thiết với họ. Cảm giác bất lực đó đi đôi

với những quyền năng đặc biệt, mà họ có được nhờ cái thân

thể tạo bằng loại vật chất đặc biệt tế nhị của họ. Họ nghĩ đến
 
chỗ nào thì họ có thể đến chỗ ấy trong nháy mắt. Bay lượn,

đi hay là bay qua vật cản, thấy nghe được ở tầm xa v.v...cũng là

quyền năng thần thông, nhưng quyền năng này không phải

được thành tựu do tu tập thiền định, mà là do nghiệp, do

mang thân trung ấm, làm bằng loại vật chất tế nhị, cho nên

bộ luận Câu Xá của Hữu Bộ gọi là nghiệp thông, nghĩa là quyền
 
năng thần thông do nghiệp mà có. Vì thân trung ấm còn

lưu luyến gia đình cũ, với bà con, thân thuộc bạn bè cho

nên họ hay quanh quẩn nơi nhà ở cũ, và nuôi dưỡng thân bằng

mùi, mà sách Phật gọi là hương. Nghĩa là thân trung ấm

không phải ăn những thức ăn bày trên bàn thờ, mà chỉ ăn

cái mùi của những thức ăn đó mà thôi.
Tôi nghĩ rằng, cõi âm

mà chúng ta nói như là cõi của người chết chính là cõi trung
 
hữu hay trung ấm của Phật giáo. Cần nói thêm rằng, xung

quanh vấn đề thân trung ấm đã từng có tranh luận trong

giới Phật học, ngay từ trước tây lịch, trong thời gian mà

lịch sử Phật giáo Ấn Độ gọi là Phật giáo bộ phái.

Khoảng 100 năm sau khi Phật nhập niết bàn, thì Giáo hội

Tăng già Ấn Độ không còn là một tổ chức thống nhất nữa. Lúc đầu,

tách ra làm hai bộ phái lớn là Thượng tọa bộ (Theravada), chủ

yếu gồm những Tăng sĩ lớn tuổi, là chức sắc trong Giáo hội

cho nên bộ phái này mang cái tên "bộ phái của Trưởng lão",

tức Thượng tọa bộ.
Bộ phái thứ hai gọi là Đại chúng bộ,

tên chữ Sanskrit là Mahasanghanikas, bao gồm số đông

Tăng sĩ trẻ, cấp tiến. Sau đó, từ hai bộ phái lớn trên,

dần dần tách ra nhiều bộ phái khác, cuối cùng con số lên đến

18 bộ phái, cộng với hai bộ phái gốc, thành ra có đến 20 bộ phái.

Nói chung, Thượng tọa bộ có tính bảo thủ hơn, nặng về bảo tồn

giáo lý nguyên thuỷ của đạo, đúng như thời Phật còn tại thế.

Còn Đại chúng bộ thì có tư tưởng cấp tiến hơn, chủ trương

phát triển giáo lý nguyên thuỷ theo yêu cầu của thời gian

và không gian. Các bộ phái tranh luận với nhau về hàng

loạt vấn đề, trong đó có vấn đề trung ấm thân. Thí dụ, Thượng

tọa Bộ cho rằng, người chết lập tức tái sanh ngay, cũng như

ngọn đèn này tắt châm sang ngọn đèn khác lại cháy ngay.

Đó là quan điểm của Thượng tọa bộ, thấy rõ trong bộ luận

cơ bản và danh tiếng "Thanh tịnh đạo luận" (Visudhimagga).
 
Nhưng trái lại, bộ phái rất có thế lực, tách khỏi Thượng tọa
 
bộ, tức là Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivada), thì khẳng định

là có thân trung ấm, trong bộ luận nổi tiếng "câu xá", mà tác

giả là vị luận sư Đại thừa xuất sắc Vasubandhu (Thế thân)..

Những mô tả về thân trung ấm được Vasubandhu ghi khá

cụ thể trong bộ luận Câu xá (phẩm về nghiệp).

Gần đây, ở Mỹ có bộ phim mang đầu đề "The ghost" (con ma),

thực ra là một bộ phim về thân trung ấm. Người bị chết,

sau khi thành thân trung ấm, cứ ngỡ là mình vẫn còn sống,

nhưng cảm thấy hoàn toàn bất lực không thể giao tiếp,

nói chuyện được với người yêu cũ của mình, cũng như

với các bà con, bạn bè thân thuộc, mà mình vẫn gặp hàng

ngày như khi mình vẫn còn sống vậy. Tuy vẫn thấy, vẫn gặp

người quen, người yêu cũ, bạn bè, nhưng không tài nào
 
giao tiếp hay nói chuyện với họ được. 

Nói tóm lại, thân trung ấm dù tồn tại tạm thời trong khi

chờ đợi tái sanh, cũng chỉ là một dạng sống như muôn vàn
 
dạng sống khác; cho nên, chụp cho nó cái tên là "con ma"

như cuốn phim Mỹ là không thích đáng. Chúng ta chờ đợi

khoa học phát minh ra các phương pháp và công cụ để chúng

ta có thể giao tiếp với các thân trung ấm, và chắc chắn là lúc ấy,

nhiều vụ án hình sự được phanh phui dễ dàng. 

* KẾT LUẬN: 

Trong khi chờ đợi khoa học phát minh ra được công cụ và

phương pháp giao tiếp với các thân trung ấm trong cõi

trung hữu, thì mọi thông tin về sự giao tiếp giữa con người
 
sống với thân trung ấm chỉ có thể là những sự kiện rất cá biệt,

hiếm có, có thể do những điều kiện như sau: 

     1. Bản thân người đương sự đã tu tập thiền định đến

trình độ đạt được một số quyền năng thần thông, trong đó
 
có thiên nhãn thông và thiên nhĩ thông, tạm dịch là mắt loài trời
 
và tai loài trời. Có độc giả đã ví con mắt thịt của loài người

như mắt một người ngồi trong nhà, xung quanh là bốn

bức tường kín mít, chỉ trừ một lỗ nhỏ để cho con người

nhìn qua đó. Và mắt loài trời đã được tác gỉa ví như mắt một
 
người ngồi trên một tảng đá ở bờ biển, có thể nhìn xa

tận chân trời góc biển (xem "The five eyes"

(năm con mắt), T.Shen). Nhưng cuộc sống hiện đại rộn rịp hiện

nay, đạt tới trình độ thiền định như vậy không phải là chuyện dễ.

Vả chăng, nếu có người tu định đạt tới trình độ như vậy, thì

họ lại không nói ra. 

     2. Có nhân duyên tiền kiếp đặc biệt khiến cho có sự giao cảm giữa

người sống ở cõi người với những người đã chết, nhưng hiện đang sống ở

một cõi sống khác, cao cấp hơn cõi người. Vì là thuộc một cõi sống cao

cấp hơn, có quyền năng hơn chúng ta rất nhiều, cho nên họ có thể đến

với chúng ta nhưng chúng ta không thể đến với họ đuợc. Họ có thể bày

cho chúng ta cách thức làm như thế nào để họ giao tiếp với chúng ta.

Nhưng đây là những trường hợp rất đặc biệt, giữa hai bên phải có những

ân tình sâu sắc.  

Tôi không thể tin là có một cõi sống đặc biệt dành riêng cho

những người đã chết. Nghĩa là có các cõi sống khác nhau,

nhưng không có một cõi nào của người đã chết cả.

 Không thể có cõi sống dành cho những người chết,

đó là một mâu thuẫn ngay trong bản thân từ ngữ,

một chuyện tưởng tượng, hoang đường. Đạo Phật

công nhận có cõi sống trung ấm, nhưng đó là một

cõi sống tạm thời, trung gian. Thân trung ấm cũng là một

loại thân vật chất, tuy rằng đó là loại vật chất đặc biệt
 
mà con mắt thịt của cõi nguời không thể thấy được.

Nhưng đã là thân vật chất thì không thể tồn

tại lâu được, nó cũng phải biến đổi và hoại diệt. 

Khi mà khoa học chưa phát minh ra được những phương

pháp và công cụ thích hợp để cho chúng ta có thể giao tiếp

được với cõi trung ấm, thì chúng ta hãy chờ đợi.

Mọi thông tin về cõi trung ấm, cũng như về các cõi

sống khác, chúng ta không vội bác bỏ cũng không vội cả tin.

Phải chăng đó là thái độ khoa học nhất hiện nay? 

        -Minh  Chi.

 

Send comment
Your Name
Your email address